Looking up...
Nước chấm truyền thống của Việt Nam, thường làm từ đậu nành lên men, có vị mặn ngọt đặc trưng, dùng để chấm thức ăn.
Bát tương ớt này rất cay, thích hợp để chấm gỏi cuốn.
Bát nước chấm ớt này rất cay, thích hợp để chấm gỏi cuốn.
Mẹ nấu canh chua, cho vào nồi một thìa tương nếp.
Mẹ nấu canh chua, cho vào nồi một thìa tương nếp (loại tương làm từ nếp).
Tương có nhiều loại: tương đen (lên men lâu), tương nếp (làm từ nếp), tương ớt (có ớt), tương ngọt (có đường), v.v.
Chất lỏng sánh, thường màu nâu hoặc vàng, dùng để chế biến thức ăn hoặc làm nước chấm.
Công thức làm tương đen yêu cầu ủ men trong 6 tháng.
Công thức làm tương đen yêu cầu ủ men trong 6 tháng để lên men hoàn toàn.
Trong ngành ẩm thực, tương được phân loại theo nguyên liệu chính (đậu nành, nếp) và phương pháp chế biến.
Tương Việt Nam thường sánh hơn, có vị ngọt mặn đặc trưng và được ủ men lâu hơn xì dầu Trung Quốc. Xì dầu thường loãng, vị mặn gắt hơn.
Tương sau khi mở nắp nên bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh để giữ được hương vị lâu hơn.
Từ tiếng Hán '醬' (tương), có nghĩa gốc là nước chấm hoặc chất sền sệt làm từ đậu nành lên men. Theo thời gian, tương trở thành tên gọi chung cho các loại nước chấm đặc trưng của Việt Nam.
Tương là nguyên liệu không thể thiếu trong ẩm thực Việt, đặc biệt trong các món như phở, bánh mì, gỏi cuốn. Không nên nhầm lẫn tương (lên men từ đậu nành) với xì dầu (nước tương Trung Quốc, thường loãng hơn).